Trong thập kỷ tới, dữ liệu sẽ giữ vai trò tương tự như năng lượng và tài chính từng giữ trong các kỷ nguyên trước: quốc gia nào sở hữu hạ tầng dữ liệu mạnh - minh bạch - an toàn - kết nối và được quản trị thông minh, quốc gia đó sẽ nắm lợi thế trong cuộc đua AI, tự động hóa và mô hình kinh tế mới.
Khi kinh tế thế giới tái cấu trúc quanh chuỗi giá trị số, đầu tư cho hạ tầng dữ liệu không còn là lựa chọn mà là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng bền vững. Nếu không có chiến lược dữ liệu quốc gia rõ ràng, chuyển đổi số và AI chỉ dừng ở khẩu hiệu. Nhưng khi dữ liệu được quy hoạch đúng - chia sẻ đúng - khai thác đúng, dữ liệu trở thành động lực mở khóa giá trị mới cho doanh nghiệp, tăng hiệu quả điều hành của Nhà nước và nâng chất lượng cuộc sống của người dân.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nêu rõ “…làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”.
Hội thảo có sự tham dự của 350 đại diện các bộ, ngành, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp công nghệ, trường đại học và viện nghiên cứu trong nước và quốc tế.
Hội thảo quốc tế hôm nay không chỉ là một sự kiện học thuật. Đây là một mốc mở ra hợp tác khu vực và quốc tế về kinh tế dữ liệu. Sự kiện này tạo nền tảng tri thức cho chiến lược dữ liệu quốc gia; tiền đề cho hợp tác quốc tế lâu dài, đặc biệt với Anh, Úc, Mỹ, EU; định hình khung tham chiếu chung để thu hút nguồn lực công nghệ, tài chính và nhân lực toàn cầu; động lực mới để Việt Nam tham gia sâu vào cấu trúc dữ liệu khu vực và quốc tế. Đồng thời là cơ hội quảng bá hình ảnh quốc gia đến các đối tác quốc tế coi Việt Nam là điểm đến chiến lược trong hợp tác dữ liệu, AI và đổi mới sáng tạo.
Chính phủ Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu có trách nhiệm, phát triển thị trường dữ liệu minh bạch, xây dựng nguồn nhân lực dữ liệu - AI, mở rộng hợp tác quốc tế.
Tất cả vì mục tiêu: Dữ liệu phục vụ con người - thúc đẩy đổi mới - nâng cao chất lượng sống và nâng tầm quốc gia.
Hội thảo quốc tế lần này được tổ chức mang ba tầng ý nghĩa:
1. Tư tưởng mới – Định hình cách tiếp cận mới về phát triển quốc gia
Hội thảo đặt ra một tư tưởng nền tảng: Kinh tế dữ liệu không phải là công nghệ, mà là kiến trúc phát triển mới của nền kinh tế hiện đại.
– Dữ liệu là “mạch sống” của đổi mới sáng tạo.
– Dữ liệu là nền tảng cho năng suất mới.
– Dữ liệu là ngôn ngữ chung của mọi ra quyết định hiện đại.
Nhìn tương lai qua lăng kính dữ liệu chính là cách các quốc gia tiên tiến đang thiết kế mô hình tăng trưởng thế hệ tiếp theo.
2. Chính sách mới – Đòi hỏi hình thành kiến trúc quản trị dữ liệu quốc gia thống nhất
Để bước vào cấu trúc kinh tế mới, Việt Nam cần:
– quy hoạch đồng bộ hạ tầng dữ liệu,
– chuẩn dữ liệu dùng chung,
– cơ chế chia sẻ an toàn và minh bạch,
– khung pháp lý hiện đại cho dữ liệu,
– và đặc biệt một đầu mối đủ năng lực dẫn dắt lĩnh vực dữ liệu quốc gia.
Hội thảo lần này tạo nền tảng khoa học cho các định hướng lớn như:
- Luật Dữ liệu và hành lang pháp lý về thị trường dữ liệu
- Khung đo lường kinh tế dữ liệu theo chuẩn OECD/EU
- Mô hình thị trường dữ liệu quốc gia
- Cấu trúc quản trị dữ liệu thống nhất toàn quốc
Đây là những cấu phần cốt lõi để bảo đảm an ninh - an toàn và chủ quyền dữ liệu, đồng thời khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của dữ liệu.
3. Cơ hội mới – Kiến tạo động lực tăng trưởng mới và nâng vị thế quốc gia
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và vận hành như một loại hạ tầng quốc gia, Việt Nam sẽ mở ra những cơ hội chiến lược:
- Nâng năng suất toàn nền kinh tế nhờ AI, tự động hóa và phân tích dữ liệu
- Thu hút dòng vốn công nghệ và đầu tư chất lượng cao
- Hình thành thị trường dữ liệu – ngành kinh tế mới giàu giá trị
- Nâng cao hiệu lực điều hành Nhà nước, giảm lãng phí, tăng minh bạch
- Tạo ra các dịch vụ công hiện đại, công bằng và cá nhân hóa
- Tạo niềm tin số, yếu tố nền tảng của mọi hoạt động kinh tế xã hội số
Đồng thời, Hội thảo mở ra mạng lưới hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Anh, Úc, Mỹ - những quốc gia đang dẫn đầu thế giới về khoa học dữ liệu, AI và quản trị hiện đại.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương nhấn mạnh: “Đây là diễn đàn đặt nền tảng cho hợp tác khu vực và hợp tác quốc tế về kinh tế dữ liệu nơi Việt Nam mong muốn kết nối sâu hơn với các trường đại học hàng đầu thế giới, các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức nghiên cứu quốc tế, các doanh nghiệp công nghệ toàn cầu và mạng lưới chuyên gia về dữ liệu và AI.”
Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia phối hợp với Trường Đại học Anh quốc Việt Nam và các trường đại học uy tín của Vương quốc Anh chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện. Sự kiện này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế dữ liệu.
Ý nghĩa lớn nhất đối với quốc gia
Dữ liệu hiện trở thành nguồn lực chiến lược của quốc gia, động lực tăng trưởng bền vững, nền tảng cho đổi mới sáng tạo và phát triển chất lượng, công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.
Kinh tế dữ liệu không còn là một xu hướng công nghệ, mà đã trở thành kiến trúc hạ tầng mới định hình năng suất, đổi mới sáng tạo và sức mạnh cạnh tranh của các quốc gia trong thập kỷ tới. Tương tự vai trò của năng lượng và tài chính trong các kỷ nguyên phát triển trước đây, dữ liệu đang nổi lên như một nguồn lực chiến lược, có khả năng quyết định vị thế của mỗi quốc gia trong cuộc đua AI, tự động hóa và quản trị hiện đại.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ quanh những chuỗi giá trị số mới, đầu tư vào hạ tầng dữ liệu không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tất yếu để bảo đảm tăng trưởng bền vững. Một chiến lược dữ liệu quốc gia thiếu đồng bộ có thể khiến chuyển đổi số và AI chỉ dừng lại ở mức kỳ vọng. Ngược lại, khi dữ liệu được quy hoạch đúng - chia sẻ đúng - sử dụng đúng, nó sẽ trở thành động lực mở khóa giá trị mới cho doanh nghiệp, tăng hiệu quả quản trị của Nhà nước và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Kinh tế dữ liệu đang dần trở thành hạ tầng cốt lõi của tăng trưởng quốc gia. Trong kỷ nguyên mà năng suất, đổi mới và AI phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng dữ liệu, quốc gia nào sở hữu hạ tầng dữ liệu mạnh - minh bạch - an toàn - liên thông - được quản trị thông minh sẽ có lợi thế cạnh tranh dài hạn. Để bước vào cấu trúc kinh tế mới, Việt Nam cần một chiến lược dữ liệu được quy hoạch tổng thể, gắn kết giữa hạ tầng, thể chế, chuẩn dữ liệu, an ninh và năng lực sử dụng.
Mỗi kỷ nguyên phát triển đều có một nguồn lực dẫn đường. Nếu thế giới từng trải qua thời đại của than đá, điện năng và dầu mỏ, thì ngày nay, một kỷ nguyên mới đang mở ra - kỷ nguyên mà dữ liệu trở thành mạch sống của đổi mới, ánh sáng soi đường cho năng suất và là ngôn ngữ chung của mọi tiến bộ. Kinh tế dữ liệu không chỉ là công nghệ; đó là khát vọng kiến tạo một quốc gia vận hành thông minh hơn, minh bạch hơn và công bằng hơn.
Khi dữ liệu được quy hoạch và mở lối đúng cách, quốc gia không chỉ hình thành các ngành nghề mới, mà còn tạo ra một môi trường nơi mọi quyết định - của Chính phủ, doanh nghiệp hay người dân - đều nhanh hơn, sáng hơn, chính xác hơn. Trong logic ấy, kinh tế dữ liệu là yếu tố quyết định chủ quyền số và lợi thế cạnh tranh quốc gia. Không có kinh tế dữ liệu mạnh, quốc gia không thể cạnh tranh trong cấu trúc kinh tế mới. Ngược lại, một hệ sinh thái dữ liệu vững chắc sẽ trở thành nền tảng tái định nghĩa sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên số.
Kinh tế dữ liệu không phải là một lựa chọn của tương lai mà là nhiệm vụ của hiện tại. Đó là xu thế tất yếu của Kỷ nguyên Dữ liệu, là nền móng của năng suất mới, là động lực để Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Lễ ký kết có sự tham gia của năm đơn vị gồm: Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia; Đại học Tổng hợp London (University of London); Trường Kinh tế và Chính trị London (LSE); Trường Đại học City St George’s (thuộc University of London); và Trường Đại học Anh quốc Việt Nam (BUV).
Hội thảo quốc tế về Kinh tế dữ liệu, với chủ đề “Tư tưởng mới - Chính sách mới - Cơ hội mới” do Bộ Công an tổ chức, được thiết kế như một cuộc đối thoại chiến lược: làm thế nào để biến dữ liệu thành hạ tầng, hạ tầng thành năng lực, và năng lực thành sức mạnh quốc gia.
Đây không chỉ là một sự kiện chuyên môn, mà là diễn đàn đặt nền móng cho tư duy phát triển mới của Việt Nam - tư duy đặt dữ liệu vào trung tâm của kiến trúc kinh tế tương lai, gắn liền với chủ quyền, năng suất và thịnh vượng quốc gia.
Sự kiện này khẳng định: Việt Nam muốn bước vào Kỷ nguyên dữ liệu một cách chủ động, có chiến lược và có tầm nhìn.
Và đặc biệt, Hội thảo cũng góp phần hình thành các luận điểm khoa học và thực tiễn để khẳng định và phát huy vai trò của Bộ Công an trong quản trị dữ liệu quốc gia, dựa trên các năng lực đặc thù về hạ tầng dữ liệu gốc, an ninh dữ liệu và điều phối thống nhất.
Đây là bước đi quan trọng để Việt Nam:
- Phát triển Kiến trúc quản trị dữ liệu quốc gia,
- Phát triển Kinh tế dữ liệu trở thành động lực tăng trưởng mới,
- Và tạo nền tảng để Việt Nam bứt phá trong thập kỷ tới.
CÁC THÔNG ĐIỆP QUAN TRỌNG TỪ HỌC GIẢ QUỐC TẾ
Các học giả quốc tế nhấn mạnh:
- 5 trụ cột tư tưởng then chốt: hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng; thiết kế hệ thống đặt niềm tin làm trọng tâm ngay từ đầu; phát triển không gian dữ liệu dùng chung; xây dựng mô hình quản trị dữ liệu hiện đại và kiến tạo thịnh vượng quốc gia dựa trên dữ liệu.
- Dữ liệu là trụ cột mới của sức mạnh quốc gia - nền tảng để bảo vệ chủ quyền và kiến tạo thịnh vượng. Kinh tế dữ liệu là mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam - vượt lên khỏi giới hạn của tài nguyên hữu hạn và lao động giá rẻ - phù hợp tư tưởng “tăng trưởng dựa vào khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo”.
- Dữ liệu tạo ra năng suất mới, giảm chi phí, tối ưu vận hành, nâng chất lượng dịch vụ công và thúc đẩy doanh nghiệp cạnh tranh toàn cầu.
- Quản trị dữ liệu là ranh giới giữa quốc gia phát triển và quốc gia tụt hậu, không phải công nghệ mà là kiến trúc vận hành. Học giả UK đều nhấn mạnh: Cái quyết định thành bại không phải AI, mà là quản trị dữ liệu (data governance). Việt Nam muốn bứt phá phải có mô hình quản trị dữ liệu thống nhất, minh bạch, có trách nhiệm, đo lường được. Dữ liệu phải được đo lường - không đo được thì không thể quản lý, không thể hoạch định chính sách, và không thể phát triển, gắn với tinh thần của Tổng Bí thư Tô Lâm về dữ liệu và Nghị quyết 57.
- Hợp tác quốc tế về kinh tế dữ liệu là điều kiện để Việt Nam “đi nhanh - đi đúng - đi xa”, hiện nay Việt Nam chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong hội nhập quốc tế với có ba giá trị hấp dẫn thế giới: dân số trẻ, tốc độ số hóa nhanh, hệ thống dữ liệu quốc gia đang hình thành.
- Kỷ nguyên dữ liệu mở ra cơ hội lịch sử để Việt Nam bước vào nhóm quốc gia dẫn dắt trong khu vực nhưng thời gian không chờ đợi. Đây là “cửa sổ cơ hội 10 năm” được nhấn mạnh bởi học giả WEF và các nhà hoạch định chính sách quốc tế. Nếu Việt Nam hành động nhanh - quyết liệt - đồng bộ và có thể vượt lên bằng mô hình tăng trưởng dữ liệu–AI.
- Việt Nam có thể trở thành trung tâm hợp tác khu vực về dữ liệu - AI - tiêu chuẩn. Hạ tầng dữ liệu quốc gia do Bộ Công an vận hành là “xương sống” bảo đảm niềm tin, kỷ luật và an ninh trong kỷ nguyên dữ liệu.
TÓM TẮT 5 BÀI TRÌNH BÀY CỦA CÁC HỌC GIẢ QUỐC TẾ
BÀI TRÌNH BÀY 1: “Nền Kinh tế Dữ liệu cho Việt Nam: Triển vọng toàn cầu”
Trình bày bởi GS Muttukrishnan Rajarajan, Ngành Kỹ thuật An ninh & Giám đốc Viện An ninh Mạng, Đại học City St George, Đại học tổng hợp London
Trong bài trình bày tại Hội thảo quốc tế v Kinh tế Dữ liệu, Giáo sư Raj Rajarajan phân tích bức tranh toàn cảnh về quá trình chuyển đổi từ kinh tế tri thức sang kinh tế số và tiến tới kinh tế dữ liệu - mô hình đang định hình lại năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Theo Giáo sư, dữ liệu hiện trở thành tài sản kinh tế chiến lược, quyết định hiệu quả vận hành, khả năng đổi mới và tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như quốc gia.
Kinh tế dữ liệu được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của IoT, điện toán đám mây, AI và 5G, tạo ra khối lượng dữ liệu khổng lồ (ước đạt 79 ZB vào năm 2025). Ở châu Âu, 85% doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ đám mây và thị trường phân tích dữ liệu lớn tăng trưởng khoảng 12% mỗi năm. Những công nghệ này mở đường cho các mô hình kinh doanh mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị dữ liệu, quyền riêng tư và an ninh mạng.
Báo cáo nhấn mạnh sự khác biệt trong chiến lược dữ liệu của ba trung tâm lớn: Hoa Kỳ, Trung Quốc và EU. Mỹ dẫn đầu về đổi mới thương mại nhưng thiếu một khung pháp lý thống nhất ở cấp liên bang; Trung Quốc triển khai mạnh mẽ các chiến lược dữ liệu tập trung, gắn với luật bản địa hóa nghiêm ngặt; trong khi EU theo đuổi mô hình “lấy con người làm trung tâm”, đặt trọng tâm vào niềm tin, chủ quyền số và khả năng tương tác. Bộ ba chính sách của EU gồm GDPR, Đạo luật Quản trị Dữ liệu (DGA) và Đạo luật Dữ liệu (Data Act) đang tạo thành hệ sinh thái pháp lý toàn diện nhất thế giới về dữ liệu, ảnh hưởng đến hơn 140 quốc gia.
Một điểm nổi bật là chiến lược xây dựng Các Không gian Dữ liệu Chung Châu Âu, dự kiến đóng góp thêm 270 tỷ EUR vào GDP EU vào năm 2028. Các không gian này cho phép chia sẻ dữ liệu có cấu trúc trong các lĩnh vực như y tế, năng lượng, tài chính, nông nghiệp, tạo tiền đề phát triển AI và dịch vụ số tiên tiến. Song song, cơ chế chuyển giao dữ liệu xuyên biên giới như SCCs, BCRs và các công cụ GDPR giúp doanh nghiệp toàn cầu vận hành hiệu quả mà vẫn bảo đảm an toàn và tuân thủ.
Về trí tuệ nhân tạo, Giáo sư Rajarajan phân tích nhu cầu dữ liệu lớn và chất lượng cao cho các mô hình AI, cùng những xung đột với quy định bảo vệ dữ liệu. Ông cũng nêu khung phân loại rủi ro của AI Act, dự kiến có hiệu lực vào 2026, trong đó 15–20% hệ thống AI được xếp vào nhóm rủi ro cao và chịu các nghĩa vụ kỹ thuật nghiêm ngặt. Các phương pháp bảo vệ quyền riêng tư như tính toán đa bên an toàn, học liên kết và bảo mật vi sai sẽ đóng vai trò quan trọng trong tương lai.
Kết luận, Giáo sư cho rằng thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới dựa trên dữ liệu, nơi đổi mới sáng tạo, khả năng tương tác và niềm tin sẽ quyết định vị thế quốc gia. Với các động lực chuyển đổi mạnh mẽ và chính sách đang hoàn thiện, Việt Nam có cơ hội lớn để tham gia sâu vào chuỗi giá trị dữ liệu toàn cầu nếu ưu tiên đầu tư hạ tầng số, chuẩn hóa quản trị dữ liệu và thúc đẩy hợp tác liên ngành.
BÀI TRÌNH BÀY 2: “Nền Kinh tế Dữ liệu ứng Dụng AI: Những lựa chọn Chiến lược cho Việt Nam”
Trình bày bởi PGS. Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa Công nghệ & Khoa học Máy tính, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV)
Tại Hội thảo quốc tế về Kinh tế Dữ liệu năm 2025, PGS. Ali Al-Dulaimi - Trưởng khoa Công nghệ & Khoa học Máy tính, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) đã trình bày tham luận “Nền kinh tế dữ liệu ứng dụng AI: Những lựa chọn chiến lược cho Việt Nam”, kế thừa phân tích các mô hình toàn cầu gồm: Hoa Kỳ (thị trường dẫn dắt), Trung Quốc (Nhà nước điều phối) và Liên minh châu Âu (lấy người dân làm trung tâm).
Theo PGS. Ali, với lợi thế dân số trẻ, tốc độ chuyển đổi số nhanh và sự linh hoạt trong hoạch định chính sách, Việt Nam có điều kiện xây dựng mô hình “lai” (hybrid), kết hợp định hướng của Nhà nước, năng lực đổi mới của khu vực tư nhân và các chính sách bảo vệ người dân.
Diễn giả nhấn mạnh mối quan hệ cốt lõi của nền kinh tế dữ liệu: Dữ liệu → AI → Giá trị. Trong đó, dữ liệu được xem là “dầu mỏ mới” - nguồn tài nguyên chiến lược; AI là động cơ tinh luyện giá trị; kết quả là gia tăng năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra của cải mới cho nền kinh tế. Theo ước tính, quản trị dữ liệu hiệu quả kết hợp AI có thể đóng góp thêm 79 tỷ USD vào GDP của Việt Nam đến năm 2030.
Bài trình bày cho thấy tác động rõ nét của AI tới các lĩnh vực trụ cột:
- Sản xuất: bảo trì dự đoán, giám sát chất lượng, tối ưu chuỗi cung ứng, giúp giảm 20–30% thời gian hệ thống ngừng hoạt động.
- Nông nghiệp: giám sát mùa vụ, dự báo dịch bệnh, tăng 25–40% năng suất và thu nhập cho nông dân, tiếp cận hơn 15 triệu hộ sản xuất nhỏ.
- Đô thị thông minh & dịch vụ công: dự báo giao thông, lũ lụt giúp rút ngắn 15–30% thời gian phản ứng, thúc đẩy Chính phủ số.
AI đồng thời mở ra các động lực tăng trưởng mới gồm tài chính toàn diện (chấm điểm tín dụng cho 40 triệu người chưa được tiếp cận đầy đủ dịch vụ ngân hàng), giáo dục (cá nhân hóa học tập cho 25 triệu học sinh - sinh viên) và du lịch (ứng dụng AR/VR, dịch thuật trực tiếp), hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm dữ liệu và AI đáng tin cậy của ASEAN vào năm 2030.
Bên cạnh cơ hội, PGS. Ali chỉ ra 4 thách thức chính gồm: (1) quyền riêng tư và chủ quyền dữ liệu; (2) thiên lệch và tính công bằng trong các hệ thống AI; (3) nguy cơ phụ thuộc vào nền tảng AI nước ngoài; (4) tác động năng lượng và môi trường từ các mô hình AI quy mô lớn.
Từ kinh nghiệm quốc tế, diễn giả dẫn chứng Vương quốc Anh áp dụng quản lý dựa trên nguyên tắc, triển khai regulatory sandbox và duy trì khung UK GDPR, cho thấy quy định nhẹ nhưng rõ ràng có thể thu hút nguồn vốn lớn; trong khi Canada tập trung điều tiết các hệ thống AI có rủi ro cao, yêu cầu đánh giá tác động bắt buộc, thể hiện cách tiếp cận quản lý trọng tâm và đạt đồng thuận chính trị sớm.
Đối với Việt Nam, PGS. Ali đánh giá cao Dự thảo Nghị định AI (10/2025) với 4 cấp độ rủi ro và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát từ năm 2026, coi đây là chất xúc tác để khai thác AI an toàn và hiệu quả.
Về định hướng chiến lược, diễn giả đề xuất xây dựng hạ tầng Dữ liệu và AI quốc gia theo ngành; phát triển dữ liệu công mở; điện toán đám mây chủ quyền và siêu máy tính xanh; trung tâm AI quốc gia và chương trình phát triển nhân lực, với tác động dự báo đóng góp 1,5–2% GDP mỗi năm và tạo 50.000 việc làm trình độ cao.
BÀI TRÌNH BÀY 3: “Đo lường Kinh tế Dữ liệu - Kinh nghiệm Quốc tế và gợi ý cho Việt Nam”
Trình bày bởi: PGS. James Abdey, Phó Giám đốc Học thuật phụ trách các Chương trình Quốc tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE)
Tại Hội thảo quốc tế về Kinh tế Dữ liệu, PGS. James Abdey - Phó Giám đốc Học thuật phụ trách các Chương trình Quốc tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE) nhấn mạnh rằng dữ liệu đã trở thành tài sản vô hình cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của các nền kinh tế hiện đại, thậm chí trong nhiều lĩnh vực vượt giá trị của tài sản truyền thống. Tuy nhiên, việc chưa có hệ thống đo lường đầy đủ khiến phần lớn giá trị kinh tế từ dữ liệu chưa được phản ánh trong GDP, làm cho năng suất và quy mô hoạt động kinh tế bị đánh giá thấp có hệ thống, gây khó khăn cho hoạch định chính sách, theo dõi tiến độ chuyển đổi số cũng như thu hút đầu tư.
Diễn giả chỉ ra các khoảng trống chính gồm dữ liệu ngoài thị trường, thặng dư tiêu dùng từ các dịch vụ số “miễn phí”, tài sản dữ liệu doanh nghiệp, dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới và các khoản đầu tư vô hình cho hạ tầng - năng lực phân tích. Theo OECD, tới 30% tăng trưởng năng suất của các nền kinh tế phát triển gắn với dữ liệu nhưng chưa được đo lường đầy đủ; McKinsey ước tính AI có thể đóng góp thêm 13 nghìn tỷ USD cho GDP toàn cầu vào năm 2030.
Đối với Việt Nam, PGS. Abdey cho rằng việc thiếu khung đo lường đang hạn chế khả năng nhận diện tiềm năng kinh tế dữ liệu, so sánh năng lực cạnh tranh trong ASEAN và hấp dẫn các dòng vốn đầu tư tập trung vào công nghệ số. Từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh, OECD và Ngân hàng Thế giới, ông đề xuất Việt Nam xây dựng khuôn khổ đo lường kết hợp chuẩn quốc tế với cách tiếp cận thực tiễn, bắt đầu bằng các chương trình thí điểm ở ba lĩnh vực có cường độ dữ liệu cao - y tế, giáo dục và tài chính, nhằm nhanh chóng tạo minh chứng về giá trị kinh tế trước khi nhân rộng toàn quốc.
Diễn giả kết luận với 5 hành động ưu tiên cho Việt Nam: bắt đầu ngay thay vì chờ phương pháp hoàn hảo; thí điểm theo ngành; đẩy mạnh đào tạo nhân lực thống kê - dữ liệu; tăng cường phối hợp liên ngành để chia sẻ dữ liệu; và áp dụng các tiêu chuẩn OECD nhằm hội nhập quốc tế, qua đó đưa kinh tế dữ liệu từ trạng thái “vô hình” trở thành nền tảng đo lường được cho chính sách phát triển, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh khu vực.
BÀI TRÌNH BÀY 4: “Kinh nghiệm Quốc tế về xây dựng Bộ chỉ số Kinh tế Dữ liệu & Khung năng lực số”
Phát triển Nền Kinh tế Dữ liệu thần kỳ của Việt Nam, trình bày bởi GS Trần Ngọc Anh, Đại học Indiana, Chủ tịch Viện Sáng kiến Việt Nam & thành viên Tổ tư vấn Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Tại Hội thảo, GS. Trần Ngọc Anh trình bày tham luận “Nền Kinh tế Dữ liệu thần kỳ của Việt Nam” khẳng định dữ liệu đang trở thành tài nguyên chiến lược của thế kỷ XXI, quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế phát triển quốc gia.
GS. Trần Ngọc Anh nhấn mạnh, với lợi thế dân số trẻ, mức độ kết nối số cao và tốc độ chuyển đổi số nhanh, Việt Nam đứng trước vận hội lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành “Cường quốc Dữ liệu” hàng đầu châu Á vào năm 2045.
Nền kinh tế dữ liệu cần được xây dựng trên ba trụ cột then chốt: Hạ tầng số (5G/6G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, IoT); Nhân lực số (khoa học dữ liệu, AI, an ninh mạng, kỹ năng số); Thể chế số (bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu mở, an ninh mạng, sandbox chính sách).
Bài trình bày giới thiệu mô hình “Vòng xoáy tạo giá trị 4T: Thu thập - Tinh luyện - Triển khai - Tái tạo”, trong đó dữ liệu kết hợp AI để tạo sản phẩm, dịch vụ thông minh, tối ưu vận hành và tiếp tục sinh ra dữ liệu mới, mở rộng không ngừng giá trị kinh tế.
Từ kinh nghiệm quốc tế, diễn giả đề xuất tiếp cận hệ sinh thái phối hợp Nhà nước - doanh nghiệp - viện trường - địa phương, với Chính phủ giữ vai trò “tổng nhạc trưởng”, xây dựng Hạ tầng Dữ liệu Tin cậy Quốc gia, Hệ thống đo lường Kinh tế Dữ liệu và Thị trường/Sàn giao dịch Dữ liệu làm nền tảng phát triển.
Lộ trình 2026–2030 tập trung hoàn thiện thể chế và đo lường kinh tế dữ liệu; thúc đẩy chia sẻ dữ liệu mở và sandbox; mở rộng đào tạo nhân lực AI - dữ liệu; phát triển các hệ sinh thái dữ liệu ngành, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam vào Top 50 thế giới về Chính phủ điện tử, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP vào năm 2030.
GS. Trần Ngọc Anh kết luận: AI sẽ dẫn dắt kinh tế toàn cầu, nhưng dữ liệu là “nguồn sống” của AI; nếu phát huy đồng bộ hạ tầng - thể chế - nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá, khẳng định vị thế Cường quốc Dữ liệu trong khu vực.
BÀI TRÌNH BÀY 5: “Thúc đẩy Nền Kinh tế Dữ liệu lành mạnh: Chúng ta cần đo lường những gì?”
Trình bày bởi GS. Chu Hoàng Long - Trường Chính sách Công Crawford, Đại học Quốc gia Úc (ANU)
GS. Chu Hoàng Long nhấn mạnh rằng để thúc đẩy một nền kinh tế dữ liệu lành mạnh, Việt Nam cần đo lường đồng thời ba nhóm yếu tố: khai thác dữ liệu, cung cấp dữ liệu, và môi trường chính sách - kinh doanh.
Về khai thác dữ liệu, dữ liệu tạo ra giá trị thông qua nâng cao hiệu quả, năng suất, cá nhân hóa, tự động hóa, đổi mới và quản lý rủi ro.
Về cung cấp dữ liệu, cần đánh giá hạ tầng dữ liệu (băng rộng, 5G, cloud), mức độ chia sẻ dữ liệu (dữ liệu mở, không gian dữ liệu ngành) và năng lực tạo ra dữ liệu từ khu vực công - tư. Đối với môi trường kinh doanh, bài tham luận nhấn mạnh tầm quan trọng của khung pháp lý rõ ràng, phát triển kỹ năng - nhân lực dữ liệu và thúc đẩy hệ sinh thái startup. Cuối cùng, GS. Long đề xuất xây dựng chính sách dữ liệu dựa trên đạo đức, minh bạch và vai trò dẫn dắt của Chính phủ thông qua số hóa dịch vụ công và tăng cường hợp tác công - tư.
